Tình huynh đệ đẹp như sao trên trời…

Lật giở từng trang kinh Trung Bộ, sư chú Thiện Nhật khẽ đọc thầm lời Phật dạy. Giờ này là tám giờ tối, chú ở phòng chỉ có một mình, các sư huynh đệ khác đều đã đi học thêm bên ngoài. Hương Ngọc Lan dưới sân bay vào phòng một mùi rất nhẹ.
Tình huynh đệ đẹp như sao trên trời…
02/06/2019, viết bởi An Nguyên, danh mục Góc Thư Giản

Hiện tại, chú đang đọc bài kinh Bẫy Mồi, kinh số 25 trong tập Trung Bộ I. Trong bài kinh, đức Phật dạy về bốn bầy nai, đại ý thế này:

Bầy nai thứ nhất tham ăn u mê, thấy đâu có mồi thì nhào đến ngay lập tức, liền bị sập bẫy. Bầy nai thứ hai không có tham mồi như bầy thứ nhất, chúng bỏ đi thật xa nơi không có dấu chân người và cũng chẳng có thức ăn, đến lúc rã rời thì quay lại tìm thực phẩm trong sự hoảng loạn mất cảnh giác và cũng bị sập bẫy thợ săn. Bầy nai thứ ba khôn hơn hai bầy trước, không tham mồi như bầy thứ nhất, không lẩn tránh cực đoan như bầy thứ hai, chúng tiếp cận thức ăn một cách khôn ngoan, cẩn trọng nhưng khổ thay chỗ trú thân của chúng cũng còn nằm trong vòng nguy hiểm nên tiếp tục là nạn nhân của thợ săn. Riêng bầy nai thứ tư, ăn mồi một cách thông minh, trú thân một cách thận trọng, nằm ngoài khu vực nguy hiểm của thợ săn, vì thế nên chúng được an lành.

Đọc tới đây, Thiện Nhật rung động lắm với hình ảnh bầy nai thứ tư! Rằng thì người tu chúng ta cũng phải như thế, nào là thọ dụng vật phẩm cúng dường một cách tri túc: ăn, mặc, ở, bệnh biết đủ vừa phải, không nên tham đắm vào lợi dưỡng danh văn các thứ… Đang miên man trong từng suy nghĩ tưởng chừng như tâm đắc ấy, chú gục đầu vào sách ngủ quên lúc nào chẳng hay.

Trong cơn ngủ bất chợt, chú thấy mình đã lớn. Giờ đây, chú là một vị Đại đức uy nghi lẫm liệt, đang từng bước đi lên bảo tòa thuyết pháp. Chú thấy mình giảng nói một cách say sưa về lời Phật dạy, từng câu từng câu đều được trích từ kinh này, kinh kia, luận của Tổ này, Tổ nọ… Chú hào hứng thuyết pháp không biết mệt mỏi, miễn sao nói cho quý Phật tử hiểu được sâu sắc lời Phật và hành trì đúng đắn là chú thấy hạnh phúc, mãn nguyện lắm. Rồi kết thúc buổi pháp thoại, chú thấy người ta ở đâu ùn ùn kéo đến cúng dường. Đằng này: “Bạch thầy, cho con xin thành tâm cúng dường”, đằng kia “Xin thầy hoan hỷ nhận để bố thí cho con được chút phước” v.v… Kế đó, Thiện Nhật thấy có một cô gái đang độ xuân xanh, với mái tóc đen dài xõa ngang vai, bước đến bên “thầy Đại đức” và nói:

- Dạ thưa Thầy, cho “em” xin cúng dường ạ!

- Ấy chết! – “Thầy Đại đức” kêu lên – Cô xưng hô như vậy là không được! Cô không nên xưng là “em” với quý Thầy. Cô nên xưng là “con” hoặc pháp danh mới phải lẽ.

Cô gái xoay đầu e lệ, có chút mắc cỡ hiện trên gương mặt trái xoan bầu bĩnh. Cô vuốt nhẹ mái tóc, khẽ lí nhí trong miệng “dạ, dạ”. Thiện Nhật nãy giờ thấy hết những biểu cảm của cô, biết rằng cô đang bối rối. Thiện Nhật cũng biết thêm rằng, nhiệm vụ của mình bây giờ là gỡ rối cho cô gái, không nên để sự thẹn thùng ngự trên khuôn mặt ấy quá lâu.

- À, chắc cô mới đến chùa nên chưa biết điều này. Ông bà ta nói “không biết không có tội”. Thôi không sao đâu, coi như đây là một kinh nghiệm.

- Dạ em… à… con cám ơn Thầy. Xin phép Thầy con về. Lần tới có lên chùa, con gặp lại Thầy sau ạ.

- Dạ chào cô. Mô Phật!

Kết thúc cuộc nói chuyện bằng câu niệm Phật, Thiện Nhật quay vào trong với nụ cười tủm tỉm về cô gái. Và rồi chú thấy mình nhiều lần sau gặp lại cô gái ấy – khi đó là Linh – với những buổi trò chuyện ngày một nhiều thêm, với cái nhìn quan sát từng ánh mắt, cử chỉ và những cành hoa vươn trên mái đầu Linh khiến chú thấy nó thật đẹp và hồn nhiên. Chú tự nhủ, hạnh phúc bây giờ và ở đây chứ đâu!

Cứ như vậy, trong khoảnh khắc thời gian luôn đi tới mà chẳng bao giờ trở lui, “thầy Đại đức” cảm giác như mình có duyên với Linh từ bao kiếp trước. Cốt tủy ý nghĩa của đạo là “tùy duyên thuận pháp trong bản chất tự nhiên như nó đang là…”. Vậy nên, không hà cớ gì mà ta phải từ chối cái cảm xúc chân thật, tự nhiên mà rất đỗi trong sáng này.

Và thì cái gì cần đến cũng phải đến. Theo quy luật tất yếu, một thời gian sau, đại chúng không còn thấy thầy Thiện Nhật ở chùa tụng kinh nữa… mà giờ đây, “túp lều tranh với hai quả tim vàng” là nơi an trú mới của Thiện Nhật. Chú thấy mình hạnh phúc hẳn ra, “thương em ta bỗng từ bi bất ngờ”. Cái gì ở Linh, chú cũng thương hết.

Khung cảnh ngoài trời lúc này thật buồn và ảm đạm. Trời xối xả những cơn mưa, mưa bất chợt của Sài Gòn những ngày vào hạ. Cơn mơ vẫn diễn tiến và chú Thiện Nhật vẫn còn đắm mình trong ấy, cho tới khi có một bàn tay vỗ lên vai, làm chú giật mình thức giấc.

- Thiện Nhật, sao em ngủ giờ này?

Thì ra là sư huynh Thiện Long. Thì ra là chú đang mơ, vậy mà đâu cứ tưởng là thật. Bất giác, chú dụi mắt ngó quanh cho tỉnh. “Ủa, mình đang đọc kinh mà ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Mình đọc tới đoạn nào rồi nhỉ?”.

- Em tỉnh chưa hay còn mơ màng? Đang suy nghĩ gì đấy?

- Dạ không, em mới vừa mơ một giấc mơ…

- Mơ sao? Kể nghe thử coi!

Rồi Thiện Nhật thuật lại cho sư huynh Thiện Long nghe tất cả những gì mình thấy và cảm giác trong cơn mơ. Nghe xong, sư huynh Thiện Long nổ một tràng cười thật to và dài, vỗ vai Thiện Nhật lần hai, nói:

- Vậy là chứng tỏ hiện tại em chỉ đang đọc kinh suông thôi, em chưa thật sự thấm nhuần được ý nghĩa. Vả lại, bản thân em cũng còn ước muốn như thế, tức là trong tiềm thức của em còn chứa nhiều hạt giống của “một mái nhà tranh hai quả tim vàng”. Em quên Sư Phụ từng dạy thế này sao: “Hoặc tại gia hoặc xuất gia, lưng chừng ở giữa biết ra người gì?”. Thì đó, vấn đề là như thế đó!

- Dạ, em hiểu rồi…

- Thôi, đừng nghĩ ngợi nhiều nữa. Việc quan trọng của chúng ta bây giờ là cố gắng học và tu tập thôi. Còn việc gì đến thì cứ để nó đến thật tùy duyên, có nghĩ trước cũng chẳng giải quyết được gì đâu!

Thiện Nhật cúi đầu “dạ” một tiếng thật nhỏ và khô khốc. Tuy sư huynh Thiện Long dặn chú đừng nghĩ nữa, thế nhưng chú vẫn chưa thể nào hết được suy nghĩ vẩn vơ. Chú nhận ra rằng, chú vào chùa này có Sư Phụ, có huynh đệ, chẳng nhẽ bấy nhiêu người thương chú như vậy mà lại chẳng bằng một bóng hồng nào đó hay sao. Ai cũng có thể là tấm gương cho mình học hỏi và nương tựa tu học. Như sư huynh Thiện Trí đã đọc hết bộ Nikaya đến cả mấy lần, sư huynh Thiện Tín, Thiện Tuệ cũng như vậy… toàn là những người giỏi cả về việc học lẫn pháp hành thực tập. Kể cũng thật lạ, khi muốn thì người ta sẽ tìm cách, không muốn thì sẽ tìm lý do để từ chối. Hiện giờ, chú thấy mình chỉ như bầy nai thứ nhất và thứ hai trong kinh thôi, vừa ngây thơ mà vừa khờ dại trước bao cám dỗ ngũ dục, lục trần thế gian.

Thở dài một hơi thật mạnh, Thiện Nhật chốt lại tâm tư của mình: “Kinh Phật là để ứng dụng, hành trì tu tập chứ chẳng phải đọc chơi cho vui đầu môi chót lưỡi, cũng chẳng phải để khuây khỏa trong những lúc “trà dư tửu hậu”. Ngẫm lại, mình còn phải đọc đi đọc lại để nghiền ngẫm bài kinh này thêm nhiều lần mới mong kham nỗi “dĩ văn tải đạo”.

Ngoài trời, mưa đang gào thét ào ạt… Giờ đây, chú khép hờ đôi mắt để lặng nghe tiếng mưa và cả tiếng lòng. Chú thấy có gì đó thật ấm áp trong lời Phật dạy và chút bình yên khi chú tưởng về tình thương che chở của Sư Phụ và đại chúng. Mưa vẫn cứ rơi và chú vẫn cứ lặng yên để lắng nghe… Bất chợt, đâu đó hiện lên hai câu thơ của Sư Phụ:

Ơn Thầy vòi vọi núi cao
Tình huynh đệ đẹp như sao trên trời…

Tâm Cung

Gửi bình luận