Lỡ chuyến đò ngang

Thuyền đời trôi dạt khi không có người hoa tiêu thông minh và bản lĩnh, một vị thầy hướng đạo là điều cần thiết cho những ai muốn đến được bến bờ kia. Có khi mưa gió bão bùng, có lúc trời trong dịu mát, có những lần ong bướm và cảnh vật ven sông níu bước chân người lữ khách phương xa. Mỗi người tự mình phải chèo chống con thuyền về bờ giác bằng mái chèo Bát Chánh...
Lỡ chuyến đò ngang
18/09/2018, viết bởi An Nguyên, danh mục Sinh Hoạt Thiền

Tôi vừa hí hửng pha một ấm trà, cho vài giọt tinh dầu sả vào ngọn đèn xông bằng nến, rồi lấy từ trên kệ sách xuống quyển “Thanh Tịnh Đạo” của ngài Buddhaghosa vừa mượn được ban chiều. Thầm nghĩ: “Chà, một buổi tối an bình với khoảng trời riêng, được đắm mình vào nguồn giáo pháp vi diệu cổ xưa thì còn gì bằng nữa!”. Vừa ngồi xuống ghế được ba phút thì chuông điện thoại reo lên, phá vỡ không khí yên bình ấy. Thật tình mà nói, việc xài điện thoại đối với tôi không có gì là hứng thú cả. Thậm chí, tôi xem cái cục gạch quái gỡ ấy là một món nợ trần gian, đem đến vô số điều rắc rối, nhưng tôi cũng tự biện minh cho mình là hầu như tất cả việc học tập của tôi đều dính tới nó: tra từ điển, liên lạc thầy cô, tải bài tập trên groupchat, theo dõi những fanpage Phật giáo hay... Đành phải gạt qua một bên những nguy hiểm để sử dụng nó trong trạng thái tỉnh táo thường trực nhất.

Số điện thoại của một người chị rất quen, tôi nhấn phím nghe để mở đầu cho một câu chuyện dài. Hạnh “lắng nghe và thấu hiểu cho cuộc đời bớt khổ” của Bồ-tát Quán Thế Âm được tôi vận dụng triệt để trong trường hợp này. Vì tôi biết một điều, người ở đầu dây bên kia ắt hẳn phải rất tin tưởng mình mới gọi vào giờ này. Cảm giác nặng nề mà họ đang gánh trong tâm có lẽ sẽ được nhẹ đi phần nào khi kể cho người khác nghe câu chuyện thầm kín. Những ưu tư đó giống như một khối đá vô hình đè lên tâm khảm, chỉ cần có một người nào đó ngồi im lặng để nghe họ nói, trút cạn những ấp ủ trong lòng, không cần phải khuyên bảo gì nhiều, bao nhiêu đó đã đủ.

Chị và anh cùng làm chung trong một cơ quan, cả hai đều là người miệt ngoài vào Sài Gòn lập nghiệp. Qua bốn năm quen biết, sau những cuộc chuyện trò, bỗng một ngày, chị chợt nhận ra mình đã phải lòng chàng trai nhỏ hơn mình 7 tuổi. Ban đầu, cả hai cứ vô tư và xem nhau như chị em, anh chỉ cho chị cách làm ăn, chị giúp đỡ anh vào lúc ốm đau, bệnh tật và khi anh cần người hỗ trợ công việc. Bước qua độ tuổi xuân thì nhưng chưa từng một lần hò hẹn, chị không ngờ rằng có một ngày mình lại lạc mất trái tim vì một chàng trai trẻ. Chị từng tâm sự với tôi, ở độ tuổi gần bốn mươi, chị không còn nghĩ đến việc yên bề gia thất. Là một Phật tử và tìm hiểu Phật pháp nhiều năm, chị chỉ mong giúp được gì cho anh em trong gia đình thì giúp, bên cạnh đó là phụng sự Tam Bảo, để dành một ít tiền gởi ngân hàng để khi về già có thể tự lo cho bản thân. Chị không đủ can đảm khi sống đời xuất gia với giới luật buộc ràng, nhưng cũng ngán cái cảnh hầu chồng chăm con, phải đương đầu với bao gánh nặng chồng kêu con réo khi vừa mở mắt. Mỗi người có suy nghĩ và cách sống khác nhau. Tôi quý chị ở điểm thật thà, vui tính, ai nhờ gì cũng giúp hết mình. Và tôi cũng rất tôn trọng quyết định của chị, khuyên chị mỗi ngày nên học pháp và hành thiền. Học pháp để có trí tuệ, đương đầu với những khó khăn, biết đúng sai phải trái mà sống ở đời và bước đi trên đường đạo, hành thiền để tâm đủ mạnh, chí vững bền và có được sự bình tĩnh, an nhiên trước biển đời xô dạt.

Không biết nghiệp chướng tiền khiên thế nào mà chị lại rơi vào một tình thế ngặt nghèo không ai muốn. Giọng chị buồn lắm, chị kể đã nói rõ cho người ta biết tình cảm của mình, muốn cắt đứt mọi liên hệ nhưng người ta không chịu. Anh rất quý và tôn trọng chị, không muốn mất đi một người bạn, một người “chị gái” quá thân thuộc với mình. Còn chị, chị cũng giằng co giữa tình cảm nam nữ và lý tưởng sống, cũng như không muốn mất anh. Còn một tháng nữa anh sẽ lập gia đình, chị biết rõ điều đó, nhưng lý trí và tình cảm trong con người như hai con mãnh thú đang giằng xé lẫn nhau. Mấy ngày trước chị nói đùa với tôi: “Chị lúc tỉnh lúc mê em ạ”. Ngay khi đó tôi chưa hiểu lý do gì, tưởng chị bệnh hay có một loài phi nhân nào đang “ám” chị, bây giờ mới biết không phải ma quỷ gì ám, mà là một con người bằng xương bằng thịt. Phải kê “đơn thuốc” gì cho chị bây giờ?

Gác máy, tôi xếp lại bàn học rồi trải tấm tọa cụ ra để bắt đầu thời thiền tối của mình. Nhưng dường như hình ảnh trong câu chuyện của chị là một đề mục để tôi suy ngẫm thay vì chú tâm vào hơi thở. Thôi thì cứ thả tâm đi lang thang trên miền đất lạ, cùng hành trang là những lời dạy của đức Thế Tôn. Tôi thích nhìn ngắm đời qua giáo pháp để hiểu rõ hơn về bản chất khổ, vô thường, vô ngã của cuộc đời và dòng liên quan tương sinh nhân quả. Đạo Phật không chỉ là những thuật ngữ khô cứng nằm trong tam tạng. Giá trị hiện thực của giáo lý phải được nhìn thấy và ứng dụng ngay trong đời sống này, với sự hiểu biết của tôi là như vậy.

Lần đầu ta gặp một người, rất hiếm khi có được cảm giác yêu thương ngay lập tức. Qua bao cuộc chuyện trò, qua những lời thăm hỏi, cử chỉ ân cần và cùng nhiều thứ khác mới có thể là duyên nảy sinh ràng buộc. Ông bà ta có một câu nói rất hay “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Nhiều việc “tình cờ” sẽ là đầu mối cho tình cảm vấn vương. Tôi không là người sành sỏi trong chuyện tình trường, vì khi vừa đến tuổi trưởng thành đã bén duyên cùng Tam Bảo và vào chùa tu tập từ đó. Thế nhưng, bao điều tôi thấy biết từ cuộc sống xung quanh cũng chính là những bài học giá trị đáng để khắc ghi. Một món quà trao tay, dăm ba câu chuyện phiếm, vài lần tâm sự mỏng cũng đủ khiến hai người xa lạ gắn kết với nhau bằng sợi dây vô hình gọi là “tình yêu”. Chỉ cần một chút thất niệm, vài suy nghĩ lệch hướng, tâm tư lan man cũng đủ cho người ta đắm trong cơn “cảm nắng”. Nhân đã có trong quá khứ, khi đủ duyên hỗ trợ thì nó sẽ nảy mầm, lên cây, ra hoa, kết quả. Trong dòng sinh tử luân hồi, ai cũng đã từng là cha, là mẹ, là anh, là em, là chồng, là vợ,... của nhau. Trong kiếp này, làm sao tránh khỏi những nhân xưa trỗi dậy, nếu không khéo đặt tâm cho đúng hướng.

Chị kể với tôi, mỗi lần anh bệnh và nhập viện, chính chị là người chăm sóc cho anh từng chút một, lo ăn uống, lau thân thể cho đỡ sốt. Những khi khó khăn, chỉ cần anh lên tiếng là chị giúp. Có lẽ, chị mắc nợ anh. Mỗi lần bên cạnh và nhìn thấy anh, chị vui lắm. Nhưng chị lại buồn khi thấy anh khỏe lại rồi gọi điện cho bạn gái. (Không buồn sao được? Chị còn là phàm phu mà!) Tôi thầm nghĩ: “Khổ thật! Người ta biết đó là khổ, nhưng dường như họ âm thầm chấp nhận nỗi khổ đó để đổi lấy niềm hạnh phúc thật mong manh. Duyên nghiệp chăng? Hay là sự vô minh bất giác?”. Tôi bỗng nhớ đến những người phụ nữ lam lũ tảo tần nơi xóm nghèo dưới quê tôi. Sáng sớm đi làm thuê cho người ta, không làm thuê thì cũng ra rẫy, ra ruộng cày sâu cuốc bẩm, chiều về ghé chợ mua cho ông chồng một xị rượu và ít đồ nhắm để chồng thưởng thức, còn bản thân thì xuống bếp lo cơm nước và mọi việc trong nhà. Vậy mà các bà có yên thân đâu! Ngày nào ông uống ít thì không sao, ngày nào “ma men” nhập thì tối đó bị đánh đập, la mắng đủ kiểu. Khổ đau là vậy, nhưng các bà vẫn gồng gánh chịu đựng nhau cả một đời, khi nhắm mắt mang theo được gì ngoài những muộn phiền chất chứa. Người ta tự biện hộ bằng đủ thứ nguyên nhân: vì chồng, vì con, vì cháu, vì hoàn cảnh đẩy đưa, vì trách nhiệm mà xã hội vô tình đặt trên vai người phụ nữ,... Tôi thấy tất cả điều đó chỉ nằm trong hai chữ nghiệp duyên. Người khôn thì vượt thoát buộc ràng và tự cởi trói cho mình. Người dại thì tự đâm đầu vào khổ và âm thầm chịu đựng, chấp nhận hi sinh. Quan trọng nhất vẫn bản lĩnh của mỗi người, có đủ tỉnh táo và khôn ngoan trước những lựa chọn, biết đâu là con đường cần phải bước đi, đâu là hầm hố chông gai nên tránh.

Ngẫm về câu chuyện của chị, tôi thấy tội cho cả hai người. Một người không muốn mất đi một tình bạn đẹp, một người chị gái thân quen. Một người không đủ dũng cảm để đoạn tuyệt và cắt đứt mối quan hệ, vẫn hằng ngày ôm ấp bóng hình kia rồi tơ tưởng, chỉ cần nhìn thấy người ta là mình hạnh phúc. Trong kinh, tôi có nhớ đức Phật dạy một điều: “Ta không thấy một sắc... tiếng... hương... vị... xúc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc... tiếng... hương... vị... xúc người đàn ông. Này các Tỳ-kheo, sắc... tiếng... hương... vị... xúc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà”. Người ta bị trói buộc vào nhau bởi những sợi dây vô hình rất riêng, khi không đủ dũng cảm để cắt bỏ thì cả hai cùng đau khổ.

Trong kho tàng ca dao dân tộc Việt, có những câu ca dao mà tôi “khoái” vô cùng, không biết ông bà mình khi xưa có tu tập, có học giáo lý Duy Thức hay A-tỳ-đàm không mà sao những điều họ nói lại vô cùng thâm thúy. “Tưởng giếng sâu anh thả sợi dây dài, ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây”. Thật sự mà nói, đời sống của một người đa phần chìm sâu trong “tưởng”. Phút hiện tại trôi qua vùn vụt, những khoảnh khắc ta thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng rất ngắn ngủi, đó là kết quả từ nhân mà ta tạo trong quá khứ (Ai từng học A-tỳ-đàm thì sẽ gọi đó là tâm quả vô nhân, không thiện không ác, nếu nó là quả tốt thì xuất phát từ nhân thiện còn là quả xấu khởi nguồn từ nhân bất thiện). Sự nhận thức và hiểu biết của mỗi người phần lớn đều là tưởng. Mình biết đó là cái bàn hay cái ghế, đàn ông hay đàn bà, đen hay trắng,... là do tưởng. Nhớ về quá khứ cũng là tưởng mà mơ đến tương lai cũng là tưởng. Tất cả những gì mình suy diễn, suy luận, suy đoán,... lại là tưởng. Tưởng sai một chút thì đi lầm đường lạc lối. Người ta hay nói “Tôi tưởng anh ta là người tốt, ai ngờ,...”. “Tôi tưởng cô ấy là người đàng hoàng, ai biết được...”. “Khôn ba năm dại một giờ”, chỉ cần thất niệm nghĩ sai, nói sai, làm sai thì hối hận cũng không kịp. Cái “tưởng” này không thể nói là thiện hay ác, xấu hay tốt, vì nếu có trí tuệ đi chung thì mọi thứ rõ ràng, minh bạch, sáng suốt để giải quyết mọi vấn đề. Còn tưởng mà bị tham, sân, si dẫn lối là ngõ về cho mọi khổ đau.

Một người khi bị “mũi tên tình ái” xuyên qua tim càng chìm sâu trong tưởng, khi rảnh một chút là nghĩ về người kia với dáng hình ấy, giọng nói, ánh mắt ấy, tiếng cười ấy,... Nhưng tất cả đều do tâm mình “suy diễn, vẽ lại, nhớ lại, nghĩ lại”, mình cho rằng đó là tốt đẹp, tinh khôi, tuyệt mĩ,... nhưng bản chất thật sự của nó là giả hợp, lắp ghép, không vững bền, thay đổi theo thời gian. Tôi nhớ tới một câu mà vị sư nói cho tôi nghe: “Mình nói mình thương một người, muốn sống trọn đời trọn kiếp với người ấy, nhưng thương họ là thương cái gì, trong khi tâm của chúng sinh thì thay đổi trong từng khoảnh khắc, còn thân của họ chỉ là những mảnh ghép mà thôi. Thử đặt một câu hỏi, người đó tắt thở ba ngày, một cái xác nằm đó bầm xanh lên, mình có dám lại gần để ôm ấp hay vuốt ve không? Hai người mới quen nhau thấy vui lắm, nhưng có ai nghĩ đến cái cảnh vài chục năm sau, ông nằm bất động trên giường bệnh, mắt lim dim nhìn lên trần nhà; còn bà ngồi trên xe lăn mặt đờ đẫn ra, con cháu đến thăm, chúng nói gì không nghe rõ. Đó là cái kết của những chuyện tình đẹp nhất, niềm ước mơ của bao đôi tình nhân cũng như sự chúc phúc của bao người trong ngày cưới là sống đến ngày răng long đầu bạc”. Nói ra thì nhiều người giận lắm, nhưng có một sự thật là chúng ta đang lừa nhau từng ngày và dối cả chính mình.

Tôi không dám nói gì nhiều với chị, bởi lẽ, “trái tim có lý lẽ riêng của nó mà lý trí không bao giờ giải thích được”. Nhưng vì chị than khổ nên tôi chỉ nói ngắn gọn rằng: “Chị biết tình yêu như vậy không được gì, chị cảm thấy mình đang rất khổ. Em thấy như vậy cũng tốt. Chị ngồi bình tâm lại và nhìn rõ tình trạng hiện tại của mình, chị có thấy mình khổ đúng không, vậy tại sao chị khổ, vì yêu nên khổ. Làm sao để hết khổ, kêu chị không yêu người ta nữa thì khó quá, em chỉ mong là chị hãy sáng suốt, bình tĩnh, thấy chuyện này đưa đến kết quả gì không hay chỉ làm khổ mình và người, khi chị có sự sáng suốt và bình tĩnh, hãy suy nghĩ cho chín chắn, từ đó mình có những hành động phù hợp, một điều quan trọng nữa là chị cần phải có sự cố gắng thường trực để nhìn rõ chính mình, nhìn rõ vấn đề, xuyên thấu nó. Mình phải đối diện chứ không trốn tránh và tự dằn vặt mình được đâu chị à”. (Hình như, tôi vừa nói với chị về Tứ Diệu Đế bằng một cách diễn đạt bình dân nhất thì phải!). Còn nữa, chị nghe em nhé, có một cách mà phương Tây người ta gọi là “tự kỷ ám thị”, nói một cách đơn giản là tự mình lừa mình chứ không có gì phức tạp cả. Bình thường, khi chị nghĩ đến người đó rồi buồn phiền, chị cứ tụng câu “thần chú” này cho em: “Suy nghĩ như vầy không tốt, là tự mình đào hố chôn mình. Tâm đang lừa tôi à, bớt “ngốc” lại đi, nếu không thì khổ lắm, tỉnh lại đi tôi ơi”. Chị không bao giờ suy nghĩ hai việc một lúc được, nên tạm thời dùng cái này trấn áp cái kia, dùng chánh niệm để đánh tan thất niệm. Dần dần mọi chuyện nguôi ngoai thôi”.

Đời người con gái được người xưa ví như mười hai bến nước, biết bến nào trong biết sông nào đục. Một chuyến đò vô tình sang ngang làm duyên phận bẽ bàng. Tôi bỗng liên tưởng đến hình ảnh phận người trôi nổi trên dòng sông sinh tử. Có biết bao lần chúng ta phải bước lên những chuyến đò xuôi ngược. Trên chuyến đò này, ta gặp những người này và gọi họ là anh, chị, em, cha, mẹ, vợ, chồng, thầy, bạn. Thuyền cập bến và ta đi chung chuyến đò khác với những con người khác. Có những lần vô duyên trên chuyến đò thiếu thiện hữu tri thức, thuyền mắc cạn nơi cồn cát của quan điểm sai lầm. Có những khi đói lạnh chôn chân nên những bến cảng không người, đó là cảnh giới hiểm nghèo của ba nẻo khổ. Thuyền đời trôi dạt khi không có người hoa tiêu thông minh và bản lĩnh, một vị thầy hướng đạo là điều cần thiết cho những ai muốn đến được bờ kia. Có những khi mưa gió bão bùng, có những lúc trời trong dịu mát, có những lần ong bướm và cảnh vật ven sông níu bước chân người lữ khách phương xa. Mỗi người tự mình phải chèo chống con thuyền về bờ giác bằng mái chèo Bát Chánh. Nếu đủ duyên người chị của tôi cũng như bao người có hoàn cảnh tương tự đọc được bài viết này, tôi chỉ muốn nói với họ rằng: “Đừng ham chơi mà để lỡ chuyến đò ngang”.

Gửi bình luận